Lịch sử nghiên cứu

     

    Các nhà khoa học đã cho thấy một thực tế rằng trí thông minh và dấu vân tay có liên quan đến nhau. Khái niệm này được chấp nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nền văn hóa. Từ đó trở đi, các nhà khoa học bao gồm DERMATOGLYPHICS, phôi học, khoa học thần kinh và di truyền học với lý thuyết đa trí tuệ. Họ đã nghiên cứu dấu vân tay để khám phá ra tài năng và tính cách ẩn của một người.


    LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU


     

    Năm 1685, cuốn sách đầu tiên về vân tay học do Gouard Bidloo xuất bản.

    là người đầu tiên phát hiện vai trò của vân tay trong lĩnh vực di truyền và sự khác biệt vân tay ở những chủng tộc khác nhau. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại lớn: Whorl, Unal, Arch. Đó là hệ thống phân loại đầu tiên cho dấu vân tay.

    ăm 1685, cuốn sách đầu tiên về vân tay học do Gouard Bidloo xuất bản.

    Sir Francis Galton là người đầu tiên phát hiện vai trò của vân tay trong lĩnh vực di truyền và sự khác biệt vân tay ở những chủng tộc khác nhau. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại lớn: Whorl, Unal, Arch. Đó là hệ thống phân loại đầu tiên cho dấu vân tay.

     

    Năm 1880, trong một công trình công bố tên là “Nature”, Henry Faulds đưa ra lý luận số lượng vân tay TFRC (Total Fingerpirnt Ridge Count) có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của dấu vân tay vào gen di truyền của con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tìm năng và trí tuệ của con người.

     

    Năm 1926, tiến sĩ Harold Cummins nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi và được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Chính ông cũng đã đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học vân tay) như là một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Mỹ

     

    Năm 1950, Nhà phẫu thuật thần kinh người Canada – Giáo sư Wilder Penfield công bố công trình “Biểu đồ mặt cắt của não bộ trong mối quan hệ với các bộ phận của cơ thể, mô tả mối liên hệ giữa vân tay và cấu trúc não bộ.

    Năm 1958Noel Jaquin đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách đặc biệt

    Năm 1985, Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.

     

    Năm 1986, giải Nobel trong lĩnh vực sinh lý học đã được trao cho tiến sĩ Rita Levi Montalcini và Stanley Cohen nhờ phát hiện ra mối quan hệ giữa hệ số NGF (sinh trưởng thần kinh hình thành não) và hệ số EGF (sinh trưởng biểu bì hình thành vân tay). Hai hệ số này chứng minh rõ nét hơn cho mối liên hệ mật thiết giữa vân tay và não bộ.

     
     
    Tư vấn ngay

    CHỨNG NHẬN